Tác giả xin gởi lời tâm tình này đến những độc giả đã có qua những năm tháng trong đời tại một miền mang danh: thùy dương, cát trắng...Cuộc hành trình về thăm dĩ vãng sẽ có ít nhiều nhầm lẫn cộng với nhớ ít quên nhiều...
Mọi việc đã qua lâu quá rồi lại thêm tuổi đời chồng chất, nhớ làm sao cho xuể...Xe mây quá khứ vẫn còn rất nhiều chỗ chờ khách cùng lên đường...Hành trang là gối lụa, mền nhung...Đêm đã khuya mà ánh đèn nhà ai còn le lói. Dòng chữ hoá bướm, trang giấy vơi lần...
Xóm có cái tên rất giản dị: Xóm Mới. Lúc trà dư tửu hậu có câu hỏi thật khó có câu trả lời...Vậy Xóm Cũ ở đâu? Không có cái Cũ làm sao có cái Mới? Miệng hỏi, tay cầm đôi đũa gắp khoanh giò lụa, miếng chả quế thơm nồng hương xưa, vị cũ...Trời thật xanh, màu xanh ngọc bích, gió mơn man đám cỏ nhung sau hè. Vườn nhà ai hoa vàng viền lối...
Cụ Tuân dẫn đưá con gái vừa mất mẹ đến Xóm Mới xin một miếng đất. Cụ tự tay vẽ lấy sơ đồ nhà cửa rồi gọi thợ đến xây một cái nhà con con toạ lạc trên cái biển cát mênh mông đó. Năm ấy cụ vừa năm mươi lăm tuổi thì phải. Cụ Tuân được gọi bằng "cụ" là vì thời buổi nó thế...
Ai ai nhìn cụ cũng phải giật mình. Khiếp, sao mà xinh giai quá...Quả thật là vậy, không đuà đâu...Thanh niên cũng không mấy ai sánh bằng...Phải thì thầm với nhau là cụ có cái "mã" mà làng trên, xóm dưới ai cũng mơ.
Cái dáng người cao cao...Một thân hình mang dáng vẻ cuả truyện cổ xứ Hy-Lạp...Một khuôn mặt vừa nhìn đã nhớ đã mong...Cái sống mũi thanh thanh, một hàm răng thật đều đặn. Còn cái ánh mắt, nó có cái nhìn thăm thẳm, cái nhìn xoáy vào hồn người đối diện dưới đôi hàng lông mày có nét cong cong cuả một thợ vẽ nhà nghề.
Thôi thì cả làng... đàn bà goá, quá lứa, lỡ thì, hay nưả đường gẫy gánh... Họ mê mẩn vì cái bóng dáng này. Không mê làm sao được...Ôi… còn nụ cười và lối chào rất kính cẩn của cụ tặng cho người đối diện, nhớ mãi không quên.
Phụ nữ nhỡ gặp cụ họ lặng người như kẻ bị hớp hồn. Họ lúng ta, lúng túng không nói cho được một câu trôi chảy dù tiếng nước ta đã nằm trên đầu môi chót lưỡi quá nửa đời người là ít...Cái giọng lúng ba, lúng búng như đang ngậm hột thị...Thưa ông ạ...Nghe như không phải là giọng cuả mình...
Cái mã bảnh bao vượt qua khỏi được trí tưởng tượng cuả giới quần hồng mơ ngày, nhớ đêm này mà còn cộng thêm được cái "uy" nữa...Thế thì có chết người không? Gặp đi thì biết, nói thì chỉ tả được một nửa thôi đấy.
Cụ mà xuất hiện nơi đâu thì họ lượn ra, lượn vào cứ như là ngày hội đến. Cuả đáng tội, ai cũng thế cứ nhìn cái gì xinh xinh là phải ngắm nghiá một tị chứ. Hai đồng tử mà đã ghi được cái hình ảnh cuả cụ là khó mà "rứt" ra được. Làm thế nào mà được giáp mặt với cụ để được ngắm trộm cái nụ cười, nhận cái cúi đầu kính cẩn cuả cụ thì qúy hóa lắm đấy. Ngày sau nhớ mãi và biết bao giờ mới quên được đây? Cụ cũng biết, biết rất rõ...Cho nên vừa thấy thấp thoáng bóng giai nhân đâu đó là cụ đi như bay, như biến...
Mặc dù được biết bao nhiêu là ngưỡng mộ cuả phái nữ nhưng cụ không hưởng được diễm phúc trong cái lĩnh vực này.
Ngày đấy cả làng sống trong một số điều lệ cuả dây thòng lọng có nghiã đã có sẵn những điều kết án treo toòng then như cái thòng lọng sẵn sàng siết cổ ngay trước mắt.
Cảnh cuả cụ nó như thế này: Cụ bà vưà quy tiên thì cụ lại có ngay một mối tình khác. Một cô đã "phải lòng" cụ. Cũng chẳng chê trách được vì đời có lý lẽ riêng cuả nó. Cụ vừa đẹp người, tính tình lịch sự và lại là người có cuả...
Con cái cụ cũng chẳng phải là những người hẹp bụng nhưng họ nghĩ: Cụ...già rồi, thêm vợ làm gì cho nó khổ thân. Rồi làng trên xóm dưới, tiếng vào lời ra thì không phải chỉ "xấu hổ" cho cụ không thôi mà họ còn phải nhận thêm ít nhiều vào phần họ nữa. Họ có ông bố già rồi mà còn thêm vợ "lẽ", xấu hổ lắm. Giá mà cụ mới độ ngoài bốn mươi thì được. Đằng này đã gần đến "năm nhăm", tuổi hưu trí thì thôi đi...nghĩ làm gì cái việc thêm vợ "lẽ", vợ mọn, đàn bà... gì nưã cho nhọc người. Mười người trong họ thì hết mười một người có lời ngăn cản. Lại thêm lúc cụ phải vào Nam vì tình thế đã thay đổi. Người cụ mong được chung sống lại không thể bỏ làng, bỏ nước ra đi với cụ. Giá cứ được ở Bắc mãi thì hạnh phúc biết bao. Cụ cứ để cô ở lại làng rồi đi đi về về một thời gian cho...nó quen. Sau đó cụ đưa hẳn cô ra Hà-Nội thì xong. Nhưng không được...tình hình đã thay đổi rồi. Lý do này là lý do chính đáng chứ còn mồm miệng thế gian dẫu có to như tiếng trống đánh thùng thùng bên tai cụ cũng chẳng màng. Cụ chấp hết...Nó có đời nó, mình có đời mình. Nó có vợ, mình lủi thủi một thân, nó có biết cho đâu? Đêm hôm chúng nó đắp chăn ấm êm thân nó, nó nào nghĩ được cảnh cuả mình. Chỉ khi nào chúng gặp phải... thì chúng mới hiểu thôi, nhưng ai lại cầu cạnh cái việc "gở" cho con, cho cái...
Thế cho nên một đời còn lại cụ có cái buồn, ôi… nó mênh mang quá! Trái đắng cuộc đời kết thành tiếng thở dài não nuột trong buổi hoàng hôn, trong đêm vắng, trong ngày nắng lẫn ngày mưa. Hồng lớn lên trong trong cái âm điệu não nuột này.
Nhà cửa xứ ta ngày đó phần lớn có cái giếng đi theo. Làm nhà thì phải đào giếng. Nhà và giếng đi chung. Cụ Tuân thuộc phái hà tiện. Cụ không chịu xây xi-măng làm miệng giếng. Vả lại chỉ có mỗi hai bố con. Hồng còn bé quá không xách nước lấy được cho nên cái giếng bên cụ Tuân lại chẳng có bờ vì giặt giũ, nấu nướng chẳng bao nhiêu. Miền này đất cát, nước đổ đến đâu thấm ngay vào lòng đất. Thôi cứ để thế cho xong, lại vưà tiết kiệm được ít nhiều phí tổn. Vốn liếng cuả cụ mang theo đã cạn rồi.
Sinh hoạt nơi giếng nước nhộn nhịp nhất là lúc chiều về. Trẻ con xếp hàng chờ từng gầu nước tưới lên người...Đám trẻ sạch sẽ rồi thì đến lượt người lớn.
Đàn bà cứ mặc nguyên bộ aó quần... kéo nước giếng lên tự nhiên tắm gội kỳ cọ xem láng giềng như pha. Cuả đáng tội nào ai muốn thế đâu nhưng không có nhà tắm thì phải vậy thôi.
Phái nữ có hai chọn lưạ...Một là chờ cho mặt trời lặn mất rối hãy đi tắm. Nhưng đợi đến lúc này gió đã thổi ra cái hơi lạnh, lại thêm nước giếng vưà mất đi cái ánh mặt trời sưởi ấm, nó bỗng lạnh buốt ngay. Cả ngày phơi nắng nó không giữ được hơi ấm, thật ra thì nguồn nước nằm tại lòng đất, lúc nào cũng mát đến lạnh. Nước lạnh sẽ làm cho da thịt xanh xanh và tím ngắt làn môi...Hay là núp bên kia thành giếng rồi mặc sức mà kỳ cọ...nhưng thỉnh thoảng vẫn phải thòng gầu xuống giếng kéo lên một vài gáo nước dội thêm cho...sạch...Thế nên cái đầu, cái thân hình đàn bà ươn ướt nhô lên, thụp xuống sau thành giếng là một hoạt cảnh khá vui mắt khi chiều xuống...
Quần ướt, áo ướt cứ dính sát vào người. Gió chiều gây gây làn da... Hai cánh tay vừa co lên che ngang ngực thì lại phải buông ra ngay. Những giọt nước di chuyển từ lọn tóc qua cái áo cánh màu trắng thấm nước trong trong đọng lại ở ngang thắt lưng. Dưới sức nặng cuả nước và cộng thêm những bước đi vấp váp cuả chủ nhân, cái sợi "chun" cuả quần nó cứ tuột xuống với tốc độ đáng ngại. Vài ba ánh mắt cuả đàn ông loang loáng sắc như dao cạo khiến phụ nữ không yên bụng. Kẻ muốn yên lại là cụ Tuân chứ không ai khác hơn.
Buổi chiều là lúc cụ độc thoại cùng hoàng hôn. Cụ mang ra một cái ghế và cứ thế, cụ ngồi yên bất động hàng giờ. Hai mắt đăm nhìn vào khoảng không...
Màn đêm từ từ buông xuống...Cái dáng đơn độc chơ vơ trong bóng đêm, căn nhà nhỏ thiếu ánh đèn, phái nữ thêm phần bâng khuâng.
Ở cái xã hội mà con trâu không bao giờ đi trước cái cầy luôn luôn có một số ngoại lệ muôn đời tránh không khỏi. Một buổi Hồng sang nhà hàng xóm chơi rồi về với một sứ mạng là lạ:
- Bố...Bà ấy bảo con là bố sang nhà bà ấy ở thì bà ấy mua bánh, may quần áo mới cho con đấy bố!
- Không được sang bên nhà ấy chơi nưã!
Nào đã hết đâu...Cụ còn có học. Cụ mà nói tiếng Tây thì phải biết. Ngày chưa vào Nam, ở nhà có cái giai thoại như thế này: Có một hôm cụ đi đâu không nhớ rõ...Trời hôm ấy lại đổ mưa...Trong lúc cụ cố bước tránh mấy vũng nước thì bỗng đánh "xuỳnh" một cái...Một chiếc xe "díp" cuả quân đội viễn chinh Pháp phóng nhanh quá bắn nước lên cụ. Thế là cụ to tiếng...Anh tài xế trố mắt, vểnh tai nghe cụ mắng...Viên đại úy cuả quân đội Pháp thời đó lại...mừng quá...Anh ta vội nhảy xuống xe thốt lời xin lỗi và nhân tiện mời cụ tham gia vào quân đội với nhiệm vụ là thông dịch viên. Anh ta tâm sự...khổ sở quá vì tìm mãi không ra được một dân bản xứ thông thạo tiếng Pháp đến thế. Nay gặp được cụ anh ta nài nỉ xin cụ về làm việc chung.
Cuộc gặp gỡ làm bẩn mất cái quần trắng giặt không biết bao nhiêu lần mới sạch và một giai thoại để đời cho con cháu.
...Cụ nhận lời, khăn gói ra đi hai tháng rồi về lại nhà. Cụ giải thích:
- Không thể tiếp tục làm việc được...Giả (trả) bao nhiêu cũng phải bỏ thôi!
Thật ra thì cụ chẳng phải làm lụng gì cũng đủ ăn suốt đời..Hai ba dẫy phố ở Hàng Gai cho thuê, tiền vào hàng tháng tiêu dùng cũng đủ. Chưa hết, tổ tiên còn có ruộng nương. Cụ thật sự chỉ muốn đi ra khỏi nhà cho đỡ quẫn chân.
Cái giọng âm ấm nghe như có chút tiếng đồng lẫn vào. Cụ nghẹn ngào:
- Tây... lúc đấy nó bắt được Việt Minh thì nó lấy khẩu cung. Việc thông ngôn là việc cuả mình. Họ thuê mình chỉ có thế. Nó có con chó săn nhớn (lớn) lắm...Mình dịch xong một câu là nó "sùy" cho chó cắn...Không được...Bất nhẫn quá...Gì đi nữa thì cũng người Việt với nhau...Thôi chỉ còn có cách nói bừa (nói đại) là vợ ốm nặng xin về nhà lo chạy chưã vì hai thằng con giai (con trai) chúng nó còn bé không biết gì. Ông Đại Úy tiếc lắm nhưng rồi "nó" phải cho về.
Thế là xong béng nó đi một công ăn việc làm mà ai cũng ao ước, vưà có tiền, lại vưà có tiếng. Thông dịch viên cho Tây thì nhất, chẳng mấy ai...
Cụ còn một việc nữa, cũng lại thêm một giai thoại:
- Dạo ấy...sang Lào...Pháp "nó" thuê canh nhân viên xây cầu cho "nó"...Chiều rồi... thật không biết sao mà mình cứ đi quanh mãi một bụi tre...Cũng biết chứ... Họ đồn là ở đấy thợ xây cầu hay bị ma dấu...đã có người bị rồi. Thật đấy ...Rõ ràng mình biết tỏng tòng tong đường về nhưng mà không cách nào thoát ra được... Cái bụi tre...Nó cứ lù lù ngay trước mặt mình...Loanh quanh mãi... May mà có một người thợ gọi rõ to...Ông làm gì đấy, về chứ...Mình giật mình đánh thót một cái rồi mới ra khỏi bụi tre được...
Câu chuyện chỉ đến thế thôi. Cụ Tuân lại trở lại cái lầm lì cố hữu, không ai có thể bắt chuyện lại được.
Hồng có một cái mà cụ Tuân khổ sở là học dốt. Mà Hồng dốt thật. Chữ nghiã thánh hiền mà thầy cô gân cổ giảng chẳng vào được lấy nửa chữ. Bố tra bài, Hồng ngồi ngậm tăm. Mười câu hỏi thì làm hỏng mất đến chín. Cái buồn cố hữu lại công thêm cái buồn mới. Với cụ, chữ nghiã, học vấn là điều bắt buộc, không những thế mà còn phải thật giỏi cơ, không tơ lơ mơ được. Hồng xem bài vở như những lá buà Ai-Cập viết từ thời thượng cổ, thật xa, thật lạ, đọc mãi, giảng giải mãi mà cái nghiã nó nằm tận đâu đâu, không làm sao buộc nó lại với thực tế. Còn môn toán thì khỏi nói, Hồng không tránh khỏi cái định luật chung...con gái...dốt toán cho nên cái dốt đã không giảm mà còn tăng.
Khoảng hơn tháng thì cụ và Hồng ra ngoài đường Nguyễn Hoàng nhờ thợ cạo (thợ cắt tóc) sưả sang lại mái tóc. Cả khu Xóm Mới chỉ có mỗi một nơi cắt tóc nên hai bố con chờ bằng thích. Hồng bốc vội tờ báo chăm chú đọc. Cả hai đua nhau đọc báo. Hình ảnh một đứa bé vưà lên sáu, lên bảy dán mắt vào tờ báo khiến khách hàng ngạc nhiên. Cụ Tuân thì để mặc Hồng xem báo thoả thích, cụ chẳng lên tiếng...
- Nó đọc cái gì không biết...Tui hả, tờ báo chỉ coi trong vòng hai ba phút là xong...Duyệt qua mấy cái "tít" là đủ...
Ông chủ tiệm ngạc nhiên nhìn Hồng rồi tuyên bố một câu vớt vát. Ông bỏ tiền mua báo cho khách đọc để giết thì giờ trong lúc họ ngồi chờ ông "húi" đầu cho người khác. Về phần ông lại khác...thì giờ đâu mà theo dõi việc làng, việc nước. Hồng thì bị bó chân tại chốn nầy vì bố không cho lang thang trong chợ cho nên nó chỉ còn có cách...đọc báo cho hết giờ. Nó đọc rất nhanh, từ "tít" lớn cho tới tiểu thuyết hàng ngày... chờ bố cắt tóc xong thì leo lên ghế... tay vẫn mang theo tờ báo nhất định không buông.
Thợ cắt tóc cắt cái... xoẹt. Hai hàng thẳng băng, một trước vưà ngang mí mắt, một ngay sau gáy ngay ở mang tai, càng cao càng tốt vì nhờ thế mà tóc lâu mọc ra trở lại.
Cái kiểu tóc "bum bê" mà một số phụ huynh chọn làm mẫu cho con em gây phiền hà cho Hồng và một số bạn cùng trang lưá biết bao nhiêu mà kể cho xiết...Cái khuôn mặt còn "trẻ con" mang nét tròn tròn. Những đường "tém" chỉ làm cho phần tròn thêm vành vạch hơn...Xấu quá là xấu. Nếu bố cho phép, Hồng đã có được cái "đuôi ngưạ" thì đẹp biết bao nhiêu?
Hồng không muốn ở nhà vì Hồng không có bạn, chẳng có ai mà chạy chơi. Cụ Tuân đi đến đâu mang theo Hồng đến đó. Cái khuôn mặt ngơ ngơ ngác ngác khiến kẻ đối diện nản chỉ muốn buông vài lời hỏi thăm nhạt nhẽo cho qua.
Cách đây vài hôm, Hồng mon men gợi chuyện một thằng bé con láng giềng lớn hơn Hồng khoảng vài ba tuổi:
- Mày tưới cây hả?
Thằng bé không buồn cho một câu ừ hử đáp lời. Nó thản nhiên ôm cái bình nước tiếp tục tưới cái đám rau. Hồng cố hỏi thêm một câu chẳng đâu vào đâu:
- Nhà mày trồng cải hả?
Câu hỏi bay ngang trong gió, chỉ có tiếng nước lào xào qua đám rau xanh ngắt...Bỗng có một giọng trong trẻo đâu đây:
- Thanh, mày sang nhà tao chơi...
- Đệ tau tưởi xong cài đà. Ba tau dằn rồi, không thì hẳn chệt hệt, ba tau quở chừ...(Để tao tưới rau xong cái đã. Ba tao dặn rồi, không thì rau chết hết, ba tao la đó)
Con đường cát cách hai căn nhà bỗng xa thăm thẳm. Hồng ngơ ngác, mắt rươm rướm một giọt buồn, nó quay đi bước vội về nhà. Vài ba tháng sau, đưá con gái hàng xóm có câu nói đường phèn mà thằng Thanh hứa qua nhà chơi, dọn đi nơi khác...
Cụ Tuân là người lo xa. Cụ ngồi ngẫm nghĩ một hồi rồi đi ngay sang nhà hàng xóm:
- Bẩm bà, cháu mất mẹ. Tôi lại là đàn ông không dậy cháu thêu thuà được. Xin bà làm phúc cho cháu đến học thêu...
- Thưa cụ, tôi đâu biết dậy thế nào đâu?
- Bẩm bà, cô Linh chắc hẳn đã học được từ bà. Xin bà làm phúc nhận hộ. Tôi cám ơn lắm.
Thế là hết bạn, hết bè, mà thật ra có ai đâu mà bạn, Hồng chuẩn bị đi...học thêu. Cụ Tuân theo lời dặn dò đi ra chợ mua ít vải trắng, một cái khung, một ít chỉ màu và Hồng tưởng phải chôn chân ít ra là gần một tháng cuả muà hè...
- Em thích mẫu nào... lưạ đi.
Cô Linh đưa ra một tập giấy Pelure đầy những hình ảnh cuả hoa, chim chóc, cây...cành lớn, cành con. Hồng đang tuổi mà hai chân chỉ muốn chạy... ngồi yên một chỗ xỏ từng sợi chỉ qua cái mũi kim tí ti là điều khổ sở vô cùng. Cụ Tuân cũng biết thế, cụ an ủi con:
- Con cố thêu được một mẫu cũng đủ...Giả (trả) tiền học... họ không nhận bố cũng ngại lắm...
Hồng tuy không "nhanh" ra mặt như những đưá bạn cùng tuổi nhưng không phải là nó không biết suy tính.
Hồng là đưá lầm lì, ít nói, nhưng bên trong cái khối óc nhỏ xíu đó nó biết sắp xếp một số việc theo ý thích mà cụ Tuân không ngờ...
...Hồng dở qua, dở lại nhưng mẫu thêu giả vờ ngắm nghiá nhưng thật ra nó đang tìm cách tháo gỡ cho mình cái ách thêu thuà đã quàng lên cổ.
Hồng suy nghĩ...không thể không đi học thêu được...Nhất định là không! Thêu khó quá, chẳng vui gì...Hai mắt mỏi, hai tay mỏi, hai chân buồn không biết xếp vào đâu. Nếu không xong...bố lại gởi đi học nơi nhà khác thì khổ thân vì dù gì đi nưã, nhà cô Linh rất gần đỡ phải đi xa. Còn nưã, chưa hết...Nếu dại dột mà lưạ một cái mẫu hoa hoè, hoa sói, nhiều cành, lắm lá thì biết đến bao giờ mới xong đây...
Đôi mắt cuả Cô Linh mở tròn khi thấy Hồng chọn một mẫu thêu giản dị...Một cái hoa, hai cái lá và hết...
Mười giờ sáng Hồng đến, mười hai giờ thì về nhà ăn cơm. Buổi chiều cụ Tuân dậy học chữ và toán. Thời khoá biểu gọn và dễ như đếm.
...Cô Linh lấy một tờ giấy Pelure khác đặt lên trên mẫu hoa, cô lúi húi "căn ke" cái mẫu hoa mà Hồng đã chọn lên tấm vải. Cô xỏ chỉ qua cây kim thêu thanh thanh và khởi sự cái tác phẩm nghệ thuật rất đỗi sơ sài đó. Đến lượt Hồng nó cũng bắt chước cô Linh đưa kim chỉ lên xuống cái khung thêu nho nhỏ.
Lớp học thêu kéo dài đâu khoảng hơn hai tuần là xong. Cụ Tuân gật gù ngắm cái tác phẩm đầu tay cuả Hồng. Cụ thân chinh sang nhà cô Linh xin được gặp cô ngỏ lời cám ơn...Còn Hồng thì được trả về cái thế giới cuả riêng nó.
Mới năm tuổi Hồng đã vào trường. Nó đội sổ. Nhà trường giữ lại không cho lên lớp. Muà hè năm đó cụ Tuân đành phải dậy Hồng ở nhà vì tìm không ra thầy trong cái xóm nhỏ đó.
Khác hẳn với cái vẻ lầm lì bên ngoài, Hồng lại là một đưá rất tinh nghịch. Hơn thế nưã nó lại là đưá "ở bẩn". Nó say mê những đống cát trong vườn như được trò chuyện với một người bạn thân.
Nó đào đất đắp vào chân rồi rút nhè nhẹ ra cho thành hình...cái nhà. Nó...xây hàng chục túp nhà đất, dọc ngang, ngang dọc. Chán đất, chán cát nó lững thững đi quanh nhà đảo mắt tìm một ổ kiến đen. Nó nhặt những miếng gạch ngói vụn vương vãi quanh vườn xếp hình vuông, hình chữ nhật ngay cạnh ổ kiến... Đám kiến đen lạc vào mê hồn trận không tìm được lối ra cứ đi loanh quanh...Nó ngồi yên nhìn đám kiến lăng xăng hàng giờ.
Chán nghịch với đám kiến thì Hồng quay sang đuổi bắt đám bươm bướm. Đám bướm bướm bé xíu màu vàng dễ bắt, chóng mặt vì Hồng. Nó bắt rồi thả, rồi bắt lại, rồi lại thả. Chán ghẹo kiến, đuà với bươm bướm thì nó bẻ hoa dại chơi. Loại hoa màu hồng nhạt, lá hơi dầy xanh thẫm có mùi nhựa hăng hắc mọc đầy vườn. Nó bẻ một cái rồi xé nhỏ ra tìm cái thân nơi cuống hoa, nhỏ như cái kim, để lên lòng bàn tay rồi phồng mang trợn mắt thổi cho cái kim đồng hồ tưởng tượng nó quay cho đủ một vòng. Cứ như thế mà muà hè qua đi...
Thằng bé, chủ nhân vườn cải, thuộc về một gia đình rất ngoan đạo. Mới năm giờ sáng tiếng xe Vespa đã nổ ròn rã và khoảng bẩy giờ thì cái chiếc xe đó mang về một cặp vợ chồng trẻ và thằng con trai, thằng Thanh, đứng ngay chỗ tay lái. Ngày nọ sang ngày kia, ngày nắng cũng như ngày mưa, cái lịch trình đó không hề thay đổi.
Vài ba năm sau thì nó đi biệt dạng và chỉ xuất hiện trong vài ngày Tết...Còn Hồng thì không dám nhìn sang bên nhà đó mỗi khi nhác thấy bóng thằng Thanh...
Hồng lớn lần theo năm tháng. Nó không còn đi học thêu. Nó tha tội cho đám kiến và để yên cho đám bướm vàng. Nó không còn nghịch cát nữa. Nó cầm giỏ đi chợ thay cho cụ Tuân vào lúc mười ba tuổi. Nó lăng xăng học cách lưạ rau, chọn cá.
Hồng tập nấu canh dưa cải, rán đậu làm bưã cơm chiều cho muà hè. Rồi có bưã thì rau muống luộc vắt múi chanh chua chua làm canh ăn chung với vài ba con cá rán dòn, thêm bát nước mắm ớt tỏi mà nó đã học được cách pha chế. Cuối tuần nào Hồng muốn mời bố dùng món chả giò cua bể thì nó dạo khắp chợ lùng mua cho được một miếng thịt ba chỉ rất nhiều nạc. Một củ hành tây, vài nắm miến rẻ tiền ,vài con "ghẹ" luộc chín gỡ lấy thịt, vài ba cái bánh tráng là hai bố con có được một món ăn ngon miệng.
Cụ Tuân cũng có món mà Hồng thích. Một hộp cá Sumaco rưả sạch đợi cơm vưà cạn nước để vào hấp cho nóng, một vài lá xà lách, một chén nước mắm với vài ba nhát ớt...
Nha-Trang có muà ruốc. Con tôm tí hon còn có cái tên là ruốc. Muà ruốc đến Hồng có món su su xào ruốc thêm thật nhiều hạt tiêu mà cụ Tuân không thích lắm nhưng chiều con nên cụ không nói câu gì.
Biển cả đem lại nhiều món ăn ngon miệng. Một loại cá thân mình dẹp, óng ánh bạc có cái tên là cá hố mỗi năm xuất hiện một lần. Những ngày đó thì cả chợ hầu như chỉ có mỗi một loại cá này mà thôi. Gia đình nào cũng mua được vì bạn hàng cạnh tranh nhau cho nên giá cả rất ư là nhẹ nhàng.
Cả xóm dùng cơm tối, cơm trưa với cá hố, ngày nọ sang ngày kia. Ăn chán... từ rán, sang kho, đến nấu canh... hàng xóm còn đem phơi khô. Ngoài hàng rào, đám cá hố đã muối mặn chờ khô lủng lẳng với hai hàng răng nhọn hoắt và hai con mắt sâu hoăm hoắm. Một mùi cá ươn ươn bay cùng xóm, nắng lẫn bụi phủ quanh con cá. Khoảng ba bốn hôm sau những "khô hố" ngả sang màu nâu nâu thì chủ nhân gói kỹ chờ muà mưa đến mới đem ra làm món ăn.
Nha-Trang là xứ cuả cá. Mỗi muà một loại cá khác nhau, nhiều, nhiều lắm, nhớ lại không xuể. Hồng đã biết lưạ mua những con cá nhỏ, những miếng thịt ba chỉ rẻ tiền cho nên những bưã cơm cuả bố con Hồng không đến nỗi kham khổ, cũng có mùi thịt, vị cá...
Năm Hồng khoảng mười lăm tuổi thì con đường chạy ngang nhà được nhà nước xúc tiến việc trải nhựa.
Đợt đầu là đổ đá. Những viên đá xanh xanh được sắp cạnh nhau suốt con đường dài chờ tráng nhưạ. Cơ quan công lộ phải chờ ít lâu cho lớp đá "nằm yên". Khoảng vài hôm thì lại có một chiếc xe lăn đường đến cán cho bằng mặt.
Trẻ con và vài đưá nghịch ngợm như Hồng thì cứ dán mắt vào những tảng đá rồi bước qua, bước lại. Các cụ thì chịu khó lội cát hai bên vệ đường.
Buổi tối ánh đèn điện đã đem lại cho khu phố một ít văn minh. Cụ Tuân vẫn không "bắt" được compteur nên bố con in bóng trên vách bằng ngọn đèn dầu.
Hồng đã biết xấu hổ vì sự túng quẫn này nên nó đi ngủ rất sớm. Khoảng một, hai giờ sáng nó bật dậy châm cây đèn dầu và học bài đến sáng.
Hồng bắt đầu mê sách vở. Lúc nào nó cũng học bài được. Lúc nấu cơm, ngồi chờ cơm cạn để rút lưả, nó dán mắt vào quyển vở cố thu những định lý, những công thức vào đầu. Cơm đã chín nó vẫn miên man với hàng chữ. Trên đường ra chợ nó phác hoạ cả một bài vạn vật trong đầu. Cái thông minh bắt đầu hiện ra nơi đôi mắt.
Hồng ít nói, hầu như không có lời... ngoại trừ lúc thưa cụ Tuân đi học, về học. Cụ cũng không có mấy lời với con gái trừ lúc tối cần thiết. Cả hai có riêng hai thế giới.
Cụ đã có tuổi nhưng cái hào hoa vẫn không suy giảm. Hồng tuy đã lớn nhưng nó tỉnh bơ theo cụ Tuân thưởng thức các món ăn mỗi khi anh phát thư đem lại cái mandat cuả người con cả. Hai người con trai, nhất là người con cả cuả cụ Tuân, lúc nào cũng dành dụm gởi tiền tháng cho cụ và đưá em gái sống.
Thỉnh thoảng hai bố con dẫn nhau đi ăn vài ba bữa cơm ngoài phố, một hàng cơm ngon...
- Thưa cụ, xin cụ nghĩ lại...Họ là người có vốn...Chỉ cần có người đàn ông bên cạnh. Còn cháu giai nhà này cũng vưà mười sáu, kính cụ...Nhất gái hơn hai, nhì giai hơn một...
Cái thằng...cháu giai mười sáu này hôm ấy lên đang cơn đau mắt và ngồi ngay chỗ quầy tính tiền đối diện với Hồng.
Hồng nhìn thẳng vào mặt cậu ta. Cậu đang khổ sở vì con mắt đỏ sưng sưng, nước mắt đầm đià và lúng túng vì cái nhìn cuả Hồng.
Thật ra thì Hồng chẳng lạ gì cái anh con trai này nhưng hôm nay nó...khang khác...Hai ánh mắt một đang lên cơn đau, một tinh quái gặp nhau, Hồng nở một nụ cười, anh ta chạy biến vào bếp...
Cụ Tuân, như thường lệ, cụ rút lui không một lời cám ơn, không nưả lời giải thích. Hồng mất đi những bưã cơm có món thịt bò ướp hành tỏi thơm phưng phức xào su su cuả một hàng cơm ngon.
Cái ăn thì thế còn cái mặc thì quả là một vấn đề không nhỏ. Cụ Tuân không còn đủ tài chánh cho đưá con gái may mặc cho nên cứ đến nưả năm học thì cụ đâm ra lúng túng. Lúng túng là phải vì đào đâu ra tiền mà may cho Hồng thêm một bộ áo dài để mặc đi học đây? May cái áo dài mới thì phải có cái quần kèm theo bởi lẽ cái quần cũ đã ngả sang màu cháo lòng. Những ngày tháng đó cụ thức khuya thật khuya mà buồn...Cái thời huy hoàng xa xưa ở Bắc đã tan theo bọt nước, Hồng chẳng hưởng được gì. Vào Nam thì hai tay không, may có cậu cả nuôi nấng nếu không thì không biết làm sao! Thật ra thì cụ cũng có người mời đi làm. Bố thằng Thanh đã có lần sang thưa cụ là toà tỉnh trưởng cần...xin cụ giúp. Cụ từ chối thẳng thừng. Bao nhiêu năm sau ngồi ngẫm nghĩ thì cũng đúng thôi...Cụ mất tất cả, mất đến nỗi không còn tha thiết gì với cuộc sống, ngặt nghèo là thương đưá con côi cút cho nên cụ cam lòng lây lất cuộc sống tàn. Cái buồn nó gậm, nó nhấm, nó phá tan hoang cả... nó thể hiện trong cái dáng cao cao lầm lũi bước những bước không hồn và cái câm nín cố hữu.
Không muốn thấy bố lo âu vì cái áo rách cùi chỏ cuả mình nên Hồng bạo bụng vá áo. Cô Bạch Vân phụ trách nữ công gia chánh ở trường Lê Qúy Đôn đã có một bài về cách...vá. Năm ấy Hồng chờ một cách thích thú, chờ cái áo sờn khuỷ tay.
Hồng cũng chẳng phải chờ lâu vì áo may bằng vải trắng thô và rẻ tiền cho nên rất mau... mục. Nó khệ nệ mang ra một cái kéo nhỏ, một cuộn chỉ trắng. Cái chỗ sờn, sưả soạn... rách được khoét một lỗ tròn và Hồng cặm cụi cả ngày cuối tuần để vá.
Thời khoá biểu giặt giũ cuả Hồng là giặt quần áo ngày thứ tư ngay lúc sáng sớm, đến trưa thì áo khô. Bưã cơm buổi trưa dành cho công việc ủi quần áo và vưà đủ thì giờ cho buổi học ban chiều. Thứ bảy cũng thế, cả bộ đồ viá được giặt và phơi trước khi đi chợ rồi nưả giờ đồng hồ trước bữa cơm thì dành cho công tác ủi. Cái bàn ủi có con gà làm khoá thật nặng tay... nhát nào đi nhát nấy. Hồng khoái trá nhìn những vết nhăn biến dần, biến dần...
Cái áo vưà vá xong được Hồng hãnh diện mặc đi học biểu diễn cái tài vá cuả mình. Hồng khéo tay, những mối chỉ đan nhau rất gọn và đều đặn. Cái áo vá cuả Hồng mở đầu cho phong trào vá áo năm đó. Vài đứa học trò vá thử...như Hồng... nhưng đành bỏ cuộc.
Ngoài bộ áo dài Hồng còn có hai bộ quần áo ngắn để thay đổi trong ngày. Hồng ngại ngùng ít khi muốn bước ra khỏi cưả nhà, hơn nưã cụ Tuân...cấm cưả cho nên Hồng cũng chẳng phải đi đâu ngoài việc ra chợ mua thức ăn. Cái nón lá mỗi lần sứt cái vành được cắt xén cho tới lúc quá nhỏ để đội thì Hồng mới dám xin tiền cụ Tuân để mua một cái khác Đường đi, đường về Hồng rảo bước thật nhanh cũng chẳng khác gì cụ Tuân.
Hai người con cụ Tuân mời cụ đi Sài-Gòn sống chung đã nhiều lần, nhưng lần nào cụ cũng từ chối. Nghĩ cũng phải, ra Sài-Gòn thì cũng đến chui rúc hang cùng ngõ hẻm nào mà thôi rồi thì "trong họ" nhìn vào, ngày giỗ, ngày tết, làm sao mà cáng đáng được đây?
Thỉnh thoảng họ về thăm cụ vài ngày, hai bố con lại bất đồng ý kiến trong cảnh sống cuả nhau. Hai người đàn ông, một già, một trẻ, "tay bắt, mặt mừng" được khoảng một giờ đồng hồ hơn là... hết. Vài ba ngày còn lại chỉ bàn quanh, bàn quẩn, to tiếng với nhau về cái bàn tính đã rơi vào ngõ cụt.
Vài năm một lần, các anh thay phiên nhau về thăm bố và em. Hồng rất đỗi vui mừng khi gặp các anh. Mỗi lần các anh từ giã, Hồng quay quắt nhớ nhung. Căn nhà bỗng lạnh lẽo hơn mọi lần. Hồng nhớ bóng anh đâu đây. Nó ôn lại phút đầu tiên lúc gặp anh mới bước vào cưả. Nó nhớ như in những chi tiết cuả buổi cơm có anh, những buổi tối có thêm một người trong nhà...Hồng lan man với những nhớ nhung cả tháng trời...
Hồng đang nhảy qua, nhảy lại...những tảng đá xanh con con tuy đã được cái xe cán đường làm cho dẹp xuống nhưng vẫn còn lởm chởm. Bà con trong xóm có hai chọn lưạ...Một là lội cát, hai là bước mỏi chân cộng thêm mỏi mắt...
Hồng nghịch ngợm, nó bước một bước bên đông, một bước bên tây...À, có chiếc xe đạp ở đâu phóng đến. Hồng vội vã tránh sang phải, chiếc xe quay nhanh sang phải. Hồng bước nhanh sang trái, chiếc xe cũng quay theo hướng cuả Hồng. Nó dừng chân trố mắt vì không còn chỗ tránh. Chiếc xe lách nhanh qua phải và biến mất. Hồng kịp ngửng đầu lên...Một khuôn mặt khá quen...À, thì ra là thằng Thanh...Sao mà nó "nhổ giò" cao như cây sào. Nó còn có đôi kính trắng nưã...À, đã đến ngày nó về thăm nhà...Nghe nói nó đã vào chủng viện rồi. Nó không ra ngoài đời nưã, nó học để thành thầy, thành cha...
Hồng suy nghĩ lan man thì đã ra đến chợ. Nó trả giá rành rọt như một người lớn đã biết bán buôn. Các quán hàng đã bắt đầu để yên cho nó không muốn buông lời nặng vì nó rất nhanh nhẩu trong lối đối đáp.
Chợ buá, hàng quán xứ ta thuở đó phần lớn có cái lối đối thoại mà các bà không muốn cho con gái tiếp xúc. Hồng chẳng có ai cho nên phải học cho nhanh cách trả lời để các bạn hàng chừa mặt nó ra.
Lúc nào và lúc nào các chị hàng cá cũng có thể quai mồm thở than là...mở hàng...dù là lúc gần...dọn gánh về nhà. Trong cái lối trả giá, các vị bình dân nay cứ bắt buộc kẻ đi chợ phải đưa cho mình số tiền quá cái phẩm và lượng cuả món hàng vì thế mà đã có rất nhiều cuộc cãi cọ xảy ra. Hồng khôn ngoan rất mực. Nó tính nhẩm giá trị cuả món hàng vào khoảng sáu đồng rồi nó nói một hơi không nghỉ:
- Hai đồng, ba đồng, bốn đồng, năm đồng..
Đến con số năm thì nó quày quả bỏ đi. Chị bán hàng tin dị đoan đành gọi lại bán rẻ. Cũng có lần có chị hàng cá mắng Hồng. Cái giọng rất...đe doạ hầu như muốn...đánh lộn:
- Miếng này mà có hai đồng hả? Bộ cá ươn sao mà rẻ quá vậy?
- Thì hai đồng, ba đồng, bốn đồng, năm đồng...chị có nghe không vậy? Không bán thì còn nguyên chứ có mất mát gì đâu. Vưà...bụng thì bán, chớ tui đâu có...ăn cắp!
Chị hàng cá sững người nghe câu trả lời sắc bén từ miệng một đưá con gái mới khoảng mười ba, mười bốn tuổi, không có cái dáng dấp "hàng tôm, hàng cá ! Chị ta giả vờ quay sang chỗ khác và tuyệt nhiên không dám thêm lấy một lời...Cái đưá "dữ" nói không lại, thôi nín đi cho xong, chờ con nhạn nào lạc đàng tấp vào tha hồ mà xiả xói bù cho đỡ tức vậy...
Hồng bương bả về nhà sưả soạn bưã cơm và quên bẵng đi những gây gỗ cuả buổi chợ. Nó vốn rất dễ quên những cái gì không đáng nhớ.
Đêm đến nó ngồi một mình. Cụ Tuân còn đang đi dạo chưa về đến nhà. Thường thì buổi tối, cơm nước vưà xong, là cụ Tuân đi loanh quanh các con đường nhỏ rồi mới chịu lên giường ngủ. Cụ hay ngủ trước, còn Hồng cứ ngồi trong bóng đêm.
Đêm muà hè đất trời trong vắt. Những vì sao lấp lánh, những tàu lá dưà xào xạc. Những đêm có trăng, cả xóm như chìm vào một khung cảnh rất khó diễn tả. Ánh trăng huyền hoặc toả xuống, vạn vật khoác lên mình một ánh sáng như một làn nước trong trong. Khuôn mặt dưới ánh trăng lẫn với nét viền cuả bóng đêm khiến mọi đường nét nhạt nhoà lung linh, nưả có thật, nửa không thật.
Hồng mê những đêm trăng như thế. Nó cứ ngồi như một pho tượng, quên mất là đêm đã vào khuya. Đêm như mọi đêm, Hồng lặng yên thật trống, thật vắng trong bóng tối.
Hình như có một cái gì khác thường trong đêm nay. Trong không khí hình như có thêm một hơi thở...Hồng giật mình...Một bóng người ngồi đối diện...Phải một bóng người...bên kia đường nhìn thẳng sang bên này...À, thằng Thanh...Ơ, sao mà nó cũng...mộng mơ đến thế...đêm tối nó cũng ngắm trăng, ngắm sao...
Sáng hôm sau lúc Hồng xách giỏ ra chợ thì một đôi mắt nhìn theo.
Vui...chưa bao giờ Hồng thấy cuộc đời vui đến thế. Những buổi chợ mà đôi chân vưà đến gần cưả nhà sao bỗng vướng vào nhau. Cái giỏ trong tay bỗng nặng chĩu, cánh tay còn lại thật thưà thãi. Hồng núp sau bờ giếng sửa soạn bữa cơm...Hai ánh mắt bên kia đường như hai luồng điện. Châu thân Hồng hừng hực một tia lưả...Hồng tập bước, những bước đi yểu điệu. Cái bộ điệu vội vã được thay bằng những khoan thai, đài các mới học đêm qua trong tưởng tượng. Sáng sang trưa, chiều sang tối, một ngày là ngày mà tim mở hội hoa đăng, rạo rực niềm vui. Đêm hè...đêm hè nóng bỏng, những ánh sao xa nheo mắt ghẹo thầm... Hồng ngồi lặng yên. Hai mắt theo dõi cái bóng đen bên kia con đường...Đêm mong dài, thật dài cho châu thân tắm niềm vui. Giấc ngủ đến qua loa mong sao cho chóng đến sáng...
Muà hè đi qua. Bóng người vẫn còn đó. Nhưng những ngày vưà sang thu thì bỗng nhiên bóng người biến mất.
Đêm tối đến Hồng ngẩn ngơ, quay quắt đợi chờ. Ngày đến... bóng người xuất hiện thưa thớt, vội vã. Cái ánh mắt thôi không còn theo dõi bước chân Hồng. Đêm bỗng lạnh tanh. Hồng ngồi chờ, chờ một đôi mắt. Chỉ còn có ngàn sao lấp lánh trên cao, chỉ còn có gió thì thào câu an ủi.
...Khoảng ba tháng sau gia đình thằng Thanh dọn nhà. Họ đổi vào Cần Thơ. Điạ danh xa quá...Thôi cũng đành xong...
Một buổi sớm có tiếng xe vận tải rồ máy inh ỏi cạnh nhà, Hồng cố gắng chờ cho tiếng xe đi xa rồi mới cố tiếp tục bước chân ra cửa bắt đầu những hoạt động cuả một ngày...Có nghe nói là Thanh đã bị đuổi ra khỏi chủng viện...Có nghe nói là Thanh quen... thân mật môt cô gái bán "bar" lớn hơn Thanh khoảng gần mười tuổi và liền sau đó thì ông bố Thanh phải đổi vào miền Nam.
Những phiến xương trong lồng ngực bỗng chốc hoá thành mũi dao xuyên hẳn qua tim, đâm thẳng lên khối óc. Khối óc buồn, giây thần kinh căng cứng, dãn ra...rồi không cách nào trở lại vị trí cuả thuở ban đầu...Sợi buồn len lỏi qua thân. Sợi buồn đan nhau thành một khối buồn, khối khổ sở, trói buộc châu thân. Hồng bước những bước nặng nề khó nhọc như tù nhân với cái cùm vô hình. Hồng rơi sâu vào khoảng đen cuả vũ trụ mỗi lúc hoàng hôn. Cái khoảng đen với từ tính cuả nam châm thu mất đi niềm vui sống, bỏ lại một cái xác vô hồn thẫn thờ vẫn phải tiếp tục đời sống thế gian.
Mỗi đêm Hồng sợ hãi nhìn căn nhà đã mất đi ánh điện. Nó nhớ nhung cái dáng người trong bóng đêm quá khứ...Những đêm sáng trăng nó ngồi một mình nơi biển cát bao quanh căn nhà nhỏ. Nó nhớ, nó mong, nó buồn buồn, nó ao ước...
Đêm hè năm sau, Hồng một mình ngắm sao...có một vài ánh sao băng...Hồng không còn muốn ước điều gì nưã. Mọi việc đã qua, qua nhanh như một giấc mộng. Có đêm Hồng thức giấc lúc nưả đêm, nó ôm cái gối trong tay nhung nhớ vô cùng cái ánh mắt cuả muà hè năm nào.
Năm Hồng được mười sáu tuổi thì cụ Tuân ốm nặng. Hồng đưa cụ vào nhà thương và nó ôm tập tiếp tục đi học. Tối đến Hồng khoá cưả ngủ một mình chờ bố khỏi bịnh được nhà thương cho phép về nhà.
Ít lâu sau thì Hồng nhận được một lá thư từ Cần Thơ gởi đến, trong thư có một đoạn.
...Chị Hồng, bà Ba buồn lắm khi nghe tin cụ đau nặng. Bà Ba nói phải chi nhà em còn ở Nha-Trang thì bà Ba xin phép cụ sang giặt đồ, nấu cơm cho chị và cụ để chị được rảnh rang mà học bài. Em nói với bà Ba là năm nay là năm thi cuả chị đó...Bà nhắc cụ và chị luôn miệng...
Em thằng Thanh, con Thủy, gởi cho Hồng vài lá thư. Trước khi nhà đổi đi xa, nó đã làm quen với Hồng...Vào đến Cần Thơ vài ba tháng nó khoe Hồng là nó có...bồ...Cái xứ Nam-Kỳ họ...bạo thật. Vưà bước sang cái phần hấp dẫn đó thì nó không gởi thêm một lá thư nào nữa. Hai ba lá thư từ Nha-Trang vào Cần Thơ không một hồi âm khiến Hồng phải ngưng viết.
...Hồng đang lúi húi với mâm cơm chiều thì nghe có tiếng nói lao xao ở nhà trên. Nó tò mò bước lên.
- Mình là Thanh, anh cuả Thủy, chắc Hồng còn nhớ!
Hồng ngơ ngác nhìn người thanh niên ngồi đối diện với cụ Tuân. Một anh thanh niên mang cái kính cận thị màu trắng... một cậu bé tưới đám rau cải, một đôi mắt cuả một muà hè, tất cả là đây. Quả tim bùng lên một ngọn lưả nhưng bỗng nguội lạnh ngay thay vào hình ảnh người đàn bà bán "bar"!
Cụ Tuân tuy nói nói cười cười nhưng đôi mắt cụ đã rực lưả. Cụ quắc mắt nhìn. Hồng sợ hãi, gượng gạo trả lời, nhưng cũng thật là câu mà Hồng rất muốn nói, nói cho bõ những ngày tháng buồn phiền, thất vọng:
- Dạ...không nhớ...
Ánh mắt cụ Tuân dịu trở lại. Cái ngọn lưả tưởng đốt Hồng thành tro được trong nháy mắt tự nhiên tắt ngúm. Hồng thở phào. Cụ Tuân cũng thở phào nhẹ nhõm. Anh thanh niên sững người vì câu trả lời cuả Hồng. Bầu không khí trở nên nặng nề, khó thở. Anh ta bèn chào cụ Tuân ra về. Hồng ngoảnh mặt sang chỗ khác và cụ Tuân nở một nụ cười hài lòng...Sáng hôm sau lúc ôm tập đi học, Hồng thấy Thanh đứng bên kia đường mắt đăm đăm nhìn theo, nó hất mặt lên bước những bước thật nhanh. Cụ Tuân đứng trong nhà nhìn cả hai, khuôn mặt đầy nét giận dữ nhưng cụ không có phản ứng gì. Hồng đã bớt giận Thanh nhưng rất sợ bố nên không dám bắt chuyện với Thanh. Được khoảng ba hôm như thế thì Thanh biến mất...
Con đường mang tên Bạch Đằng bỏ cát thay bằng nhưạ chạy băng qua nhà sản xuất xà-phòng Tín Đức, qua trường tiểu học Giuse, tiến đến đường Nguyễn Hoàng một đường thẳng tắp.
Mỗi tối thứ bảy cả xóm thôi tụ tập, trả vài đồng bạc cho một đầu người vào xem phim hề Charlot với phụ đề miệng cuả các cha trường thánh Giuse. Đường Nguyễn Hoàng dẫn đến một xóm xa mang tên Phước Hải.
Trên hướng ra biển, biệt thự cuả Thiếu-Tướng Đỗ Mậu phủ đầy màn trúc nơi cưả ra vào và cả cửa sổ. Thỉnh thoảng ông có nhà. Hồng đi ngang qua liếc nhìn vị quân nhân đứng tuổi trong nắng sớm, trong bộ quân phục màu xanh lơ. Hai chân nó bước nhanh...
Chợ cá lan dần ra đường, hàng ra muống bắt chước lấn theo. Chiếc xe quảng cáo các loại thuốc cần dùng cho nam phụ lão ấu với một điã hát tân cổ giao duyên quay đi quay lại mỗi ngày inh tai cả xóm. Ai nấy chê liền miệng những sản phẩm này mà ngày nào họ cũng có khách.
Tháng tư năm 1975 Hồng theo đám người di tản trôi dạt qua xứ người xây cuộc sống mới. Đấu tranh cho miếng cơm, manh áo và trải qua không biết bao nhiêu những chấn động nặng cuả cuộc đời, Hồng quên bẵng đi nhưng ánh sao rơi ngày mới lớn.
Một hôm tình cờ cầm lên một tờ báo thì hai chữ "chủng viện" đập ngay vào mắt. Chữ đi qua thị giác xuyên vào cái phần ký ức đã ngủ quên qua không biết bao nhiêu năm. Ba cái bóng quá khứ vượt thời gian hiện về, Hồng nghẹn ngào...Nhớ lại cái ánh mắt cầu khẩn cuả người thanh niên trong quá khứ Hồng bỗng thấy lòng buồn tênh.
...Anh đang ở đâu? Anh đến chân trời góc biển nào? Anh có thoát được cảnh lao tù trong lúc nước nhà lâm cơn nguy biến hay không? Anh có mái nhà êm ấm hay vẫn còn một thân cô độc? Vườn nhà anh còn có loại rau cải năm xưa?
...Rồi trong một đêm trăng rực sáng, hình như có bóng người năm cũ, cái bóng người bên kia con đường trong căn nhà đối diện. Hồng buột miệng:
- Vâng, nhớ chứ...đâu quên được!
Thấp thoáng đâu đây lại có cái bóng người đàn bà đất Thần-Kinh, áo cánh trắng, cái quần đen, và nụ cười e ấp trên môi. Người đàn bà giúp việc cho nhà Thanh mà con tim tưởng đã ngủ yên nhưng bỗng một hôm vướng phải sợi giây tình buồn một lần cuối trong đời...Rồi Hồng lại thì thầm:
- Thưa... dì Ba... con đi học.
Gió xôn xao đuà giỡn đám hoa vàng trong bóng đêm rồi gió buông tiếng thở dài trải nỗi buồn vương mặt lá. Vài ánh sao lấp lánh... Câu nói đã mất thời gian tính làm mặn môi, cay mắt...
Hỡi người thuở trước, anh bây giờ phương nao?
Nguyễn Ngọc Hương